ỨNG DỤNG MỘT SỐ CÔNG NGHỆ MỚI TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Để xây dựng các mô hình nuôi phát triển bền vững, thân thiện với môi trường, xu hướng hiện nay là đẩy mạnh việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật và sinh học tác động nhằm làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên nước thông qua việc quản lý chất lượng nước trong hệ thống nuôi để tự làm sạch và tái sử dụng nước…

1. Giới thiệu

Ngành nuôi trồng thủy sản có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam. Trong những năm qua, sản xuất thủy sản đã đạt những thành tựu rất lớn. Trong năm 2011, tổng sản lượng thủy sản đạt trên 5,2 triệu tấn (tăng gấp 5,1 lần so với năm 1990, bình quân tăng 8,49%/năm); sản lượng nuôi trồng đạt 3 triệu tấn (tăng gấp 9,7 lần so với năm 1990, bình quân tăng 12,02%/năm). Trong thời gian tới, nuôi trồng thủy sản nước ngọt ở ĐBSCL phải đối mặt với những thách thức mới như suy giảm tài nguyên nước ngọt do biến đổi môi trường đầu nguồn sông Mekong, xâm nhập mặn làm giảm diện tích nuôi thủy sản nước ngọt, trong khi nhu cầu sản phẩm thủy sản ngày càng tăng. Để đáp ứng nhu cầu gia tăng sản lượng, nghề nuôi thủy sản nước ngọt đang phát triển theo hướng đa dạng hóa và thâm canh hóa. Tuy nhiên, thâm canh hóa nghề nuôi cũng sẽ đối mặt với nhiều mối nguy như tăng sử dụng tài nguyên nước, gia tăng ô nhiễm môi trường, dịch bệnh dễ phát sinh và khó kiểm soát. Do vậy, thâm canh hóa phải gắn liền với khái niệm nuôi bền vững. Đó là sự quản lý thành công mô hình sản xuất thủy sản đáp ứng nhu cầu của con người, trong khi vẫn duy trì chất lượng môi trường và bảo vệ được các nguồn tài nguyên tự nhiên.

Để xây dựng các mô hình nuôi phát triển bền vững, thân thiện với môi trường, xu hướng hiện nay là đẩy mạnh việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật và sinh học tác động nhằm làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên nước thông qua việc quản lý chất lượng nước trong hệ thống nuôi để tự làm sạch và tái sử dụng nước; hoặc ổn định chất lượng nước, cân bằng hệ sinh vật, và bổ sung chất dinh dưỡng. Đây là cơ sở để phát triển hệ thống nuôi tái sử dụng nước hay hệ thống lọc tuần hoàn (RAS) và ứng dụng công nghệ biofloc.

2. Công nghệ nuôi thủy sản trong hệ thống lọc tuần hoàn

2.1 Khái niệm hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn
Nuôi trồng thủy sản theo hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn bao gồm một dây chuyền các quá trình bổ sung, cho phép lượng nước thải được tái sử dụng cho bể nuôi hoặc một bể nuôi khác (Timmons et al., 2002). Trong hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn, phân biệt:

– Hệ thống tuần hoàn nước một phần là hệ thống có từ 10 – 70 % lượng nước tuần hoàn trong một chu kỳ (mỗi ngày).

– Hệ thống tuần hoàn nước hoàn toàn là hệ thống thay nước ít hơn 10 % thể tích nước của hệ thống nuôi mỗi ngày.

2.2. Mục đích xây dựng hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn
Theo Hochheimer and Wheaton (1998), việc xây dựng hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn nhằm đạt các mục đích:

– Đảm bảo quá trình vận hành an toàn, kiểm soát mầm bệnh, sức khỏe và chất lượng sản phẩm cá nuôi.

– Giảm thiểu tối đa lượng nước được thay trong thời gian nuôi, tăng sản lượng cá nuôi.

– Cải thiện và làm gia tăng tốc độ tăng trưởng cao nhất, chất lượng cá và hiệu quả sản xuất tổng thể.

– Cho phép xử lý nước ô nhiễm trong một vùng khép kín và giúp nâng cao kiểm soát quá trình xả thải, góp phần bảo vệ môi trường.

– Hình thành và phát triển công nghệ nuôi tạo ra sản phẩm sạch, chất lượng và bảo vệ môi trường, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.

– Tiết kiệm được diện tích đất khai thác và thời gian chăm sóc, quản lý hệ thống nuôi.

2.3. Cấu trúc của hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn
Một hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn, tùy theo qui mô, nhưng thường bao gồm một số bể nuôi các đối tượng thủy sản, bể tách chất thải rắn (TSS), bể chứa với máy bơm và bể lọc sinh học. Ngoài ra, ở hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn có thể có thêm một hoặc các bộ phận trợ lực khác như: bể phản nitrate, dụng cụ khử trùng, bể periphyton hoặc bể chứa rong bèo và sau cùng là bể ương hay dưỡng cá khỏe, đạt tiêu chuẩn kích thước trước khi thả nuôi vào hệ thống.

2.4. Các mô hình nuôi thủy sản trong hệ thống tuần hoàn trên thế giới và tại Việt Nam

Kể từ những năm 80, nuôi cá bằng hệ thống tuần hoàn nước đã tăng lên đáng kể về khối lượng và đa dạng loài (Rosenthal, 1980; Verreth and Eding, 1993; Martins et al., 2005). Ngày nay hơn 10 loài cá được sản xuất theo công nghệ hệ thống tuần hoàn nước (cá trê phi, lươn, cá chình, cá rô phi, cá bơn, cá chẽm,..). Năng suất nuôi cá trê phi có thể đạt 500kg/m3/vụ, cá chình khoảng 600 tấn/m3/vụ và cá rô phi là 140 kg/m3/vụ.

Nhiều báo cáo cho thấy rằng sản xuất giống ngày càng áp dụng theo công nghệ hệ thống tuần hoàn nước. Ví dụ sản xuất giống cá hồi Đại Tây Dương ở đảo Faeroe hoàn toàn áp dụng theo công nghệ RAS từ sau năm 2000 (Bergheim et al., 2008, 2009). Tại Na Uy dự kiến sản xuất 85 triệu giống cá hồi theo công nghệ hệ thống tuần hoàn nước (Del campo et al., 2010). Tình trạng thiếu nước trong tương lai, nhiệt độ theo mùa thay đổi lớn là những yếu tố chuyển sản xuất giống cá hồi theo công nghệ hệ thống tuần hoàn nước ở Na Uy (Kristensen et al., 2009).

Ở Việt Nam trước đây, công nghệ nuôi tuần hoàn này chưa được quan tâm. Tuy nhiên, do việc áp dụng những tiêu chuẩn mới về sản phẩm thủy sản của những nhà nhập khẩu Châu Âu và Mỹ trong đó có việc quản lý chất lượng nước như làm giảm lượng dưỡng chất thải ra môi trường, nên việc áp dụng nuôi thủy sản trong hệ thống RAS đã bắt đầu được quan tâm. Công nghệ này được ứng dụng nhiều nhất trong lĩnh vực sản xuất giống cá, tôm. Hiện tại qua thời gian thử nghiệm, Trường Đại học Cần Thơ đã đưa kỹ thuật nuôi tuần hoàn vào chương trình giảng dạy cho bậc Đại học và Cao học. Ngoài ra, các thí nghiệm xây dựng quy trình nuôi các đối tượng nuôi phổ biến như: cá Tra, Lóc, Trê, Rô đồng, … bằng hệ thống tuần hoàn nước cũng đã được thực hiện và cho kết quả ban đầu rất khả quan. Trong quá trình thực nghiệm nuôi cá Tra trong hệ thống tuần hoàn, với mật độ thả 2.000 con/m3, thức ăn cung cấp có 40 % đạm, thực nghiệm cho tỉ lệ sống không thay đổi sau 56 ngày nuôi, với tốc độ tăng trưởng đặc biệt đạt bình quân 4,32 %/ngày. Đối với cá Lóc, với khối lượng ban đầu thả nuôi là 2,5 g/con, mật độ thả 250 con/m3, sau 150 ngày thả nuôi, tăng trưởng của cá đạt bình quân 2,57 g/ngày và khối lượng trung bình của cá khi thu hoạch đạt bình quân 387 g/con. Ở cả hai thực nghiệm trên, điều kiện môi trường nước biểu hiện khá ổn định, không gây ảnh hưởng bất lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cá.

2.5. Những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng hệ thống tuần hoàn trong nuôi trồng thủy sản

Thuận lợi
Theo một số công trình nghiên cứu và thực nghiệm cho thấy hệ thống hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn mang lại rất nhiều lợi ích như:

– Yêu cầu nước cung cấp cho hệ thống nuôi thấp: Bởi vì hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn tái chế hầu hết lượng nước được sử dụng, lượng nước được bổ sung rất ít.

– Yêu cầu về diện tích nhỏ: Cá được nuôi trong bể, với oxy được cung cấp và chất thải trong quá trình trao đổi chất của cá nuôi được loại bỏ, cá được thả ở mật độ cao. Vì vậy, hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn có thể tiết kiệm được một diện tích đáng kể, nhưng vẫn đảm bảo được năng suất, sản lượng cá cho nhu cầu tiêu dùng.

– Kiểm soát được chất lượng nước: Với hệ thống tuần hoàn, người nuôi sẽ chủ động kiểm soát và quản lý chất lượng nước phù hợp cho sự phát triển của cá trong quá trình nuôi.

– Khống chế dịch bệnh: Việc kiểm soát môi trường kết hợp thực hiện việc cung cấp thức ăn cho hệ thống nuôi hợp lý, giúp cho công tác phòng bệnh tốt hơn, cá ít bị nhiễm bệnh trong quá trình ương nuôi.

Khó khăn
Việc quản lý chất lượng nước phải đảm bảo nghiêm ngặt, vì sự suy giảm chất lượng sẽ dễ dàng dẫn đến các tiêu cực như: tăng trưởng của cá, nguy cơ xuất hiện bệnh (Timmons et al. 2002). Tốn kém chi phí vận hành và duy trì hoạt động cũng như đòi hỏi công nhân sản xuất phải được đào tạo.

3. Ứng dụng công nghệ Biofloc trong nuôi trồng thủy sản

3.1. Biofloc là gì?
Biofloc là một phức hợp (dạng cụm kết dính) bao gồm các loài tảo, tảo biển lớn, động vật nguyên sinh, mảnh vụn hữu cơ, vi khuẩn. Mỗi hạt biofloc được gắn kết lại với nhau bởi chất nhờn được tiết ra từ vi khuẩn, chúng kết dính với nhau bởi các vi sinh vật dạng sợi. Hệ sinh vật trên biofloc cũng bao gồm các động vật phù du và giun tròn. Biofloc trong hệ thống nước xanh thường có kích thước lớn (50 – 200 µm), và rất dễ lắng xuống trong nước tĩnh.

3.2. Vai trò của biofloc
Biofloc không những có tác dụng cải thiện chất lượng nước mà còn là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho tôm, cá nuôi. Các loại vi khuẩn trong biofloc (vi khuẩn dị dưỡng) có khả năng chuyển hóa vật chất hữu cơ thành sinh khối nên có thể làm thức ăn cho tôm, cá (Avnimelech, 2012). Biofloc có hàm lượng đạm khá cao (25- 50% khối lượng khô) và là nguồn vitamin, khoáng cần thiết cho tôm cá, đặc biệt là nguồn phospho. Theo Hargreaves (2013), biofloc có một số lợi ích như:

– Thúc đẩy tăng trưởng của cá, tôm nhờ các thành phần dinh dưỡng của nó.

– Gia tăng chất lượng thịt tôm, màu sắc.

– Cải thiện chất lượng nước ao nuôi qua việc loại bỏ một số độc tố như amonia, nitrite.

– Giảm hệ số thức ăn FCR.

– Tăng cường an toàn sinh học.

3.3. Ứng dụng công nghệ biofloc trong nuôi trồng thủy sản

Công nghệ biofloc được ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản như là một giải pháp hữu hiệu để cải thiện môi trường nước và là nguồn dinh dưỡng tốt cho đối tượng nuôi (De Schryver, et al., 2008; Avnimelech, 2012). Những đóng góp về mặt dinh dưỡng của biofloc trong nuôi tôm đã được các nhà khoa học nghiên cứu hơn hai thập kỷ qua. Kết quả nghiên cứu của Burford et al. (2003; 2004) cho thấy có khoảng 20 – 30% protein được tôm hấp thu từ biofloc. Ứng dụng công nghệ biofloc còn làm tăng năng suất, khi nuôi tôm chân trắng trong hệ thống Raceway kết hợp thu tỉa, năng suất có thể đạt tới 51 tấn/ha (Nyan, 2010). Biofloc cũng được ứng dụng trong nuôi cá rô phi (Oreochromis niloticus x Oreochromis aureus), cá được nuôi với thức ăn viên có 30% đạm (đối chứng) và 20% đạm kết hợp biofloc, lượng thức ăn sử dụng hàng ngày tương ứng với 2 loại thức là 2% và 2,6% khối lượng thân. Kết quả cho thấy cá tăng trưởng tốt hơn ở nghiệm thức biofloc cùng với hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) thấp và hệ số chuyển hóa đạm (PCR) cũng giảm đáng kể. Hệ số PCR ở nghiệm thức đối chứng từ 4,35 đến 4,38 có nghĩa là chỉ 23% lượng đạm từ thức ăn được chuyển hóa sang cá. Trong khi đó, hệ số PCR ở nghiệm thức biofloc chỉ trong khoảng 2,2-2,4, có nghĩa là việc sử dụng chất đạm cao hơn gần gấp đôi. Chi phí thức ăn cũng giảm từ 0,85 USD để sản xuất ra 1 kg cá trong lô đối chứng so với 0,55USD trong nghiệm thức biofloc (Avnimelech et al., 1994).

Biofloc được ứng dụng trong nuôi vỗ thành thục 3 loài tôm bố mẹ là tôm thẻ chân trắng (L. vannamei), tôm hồng (F. duorarum) và tôm thân xanh (L. stylirostris), kết quả cho thấy biofloc có thể cải thiện khả năng sinh sản của tôm bố mẹ so với phương pháp nuôi vỗ truyền thống, tôm đẻ sớm hơn với số lượng trứng trên một lần sinh sản nhiều hơn (Emerenciano et al., 2011).

Hari et al. (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung carbohydrate lên chất lượng nước và sự biến động của Nitrogen trong ao nuôi tôm sú. Kết quả cho thấy bổ sung carbohydrate làm tăng tổng vi khuẩn dị dưỡng, làm giảm hàm lượng TAN, Nitrite trong nước và hàm lượng TAN trong bùn đáy ao nuôi; đồng thời làm giảm được nhu cầu protein trong thức ăn cho tôm nuôi. Kuhn et al. (2009), đã thực hiện thí nghiệm sử dụng biofloc thu từ ao nuôi cá rô phi thay thế một phần bột cá và bột đậu nành trong khẩu phần ăn của tôm thẻ chân trắng cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ sống (93–100%) nhưng tăng trưởng của tôm nuôi ở nghiệm thức có thay thế biofloc tốt hơn. Sau 35 ngày nuôi thử nghiệm, khối lượng trung bình tôm nuôi ở các nghiệm thức thay thế 7,8% và 15,6% bột đậu nành bằng biofloc (tính theo vật chất khô) lần lượt là 8,18 g và 8,07 g; nghiệm thức thay thế 7,8% bột cá bằng biofloc, khối lượng tôm trung bình là 8,13 g; trong khi nghiệm thức cho ăn bằng bột cá và bột đậu nành chỉ đạt trung bình 5,46 g và 4,42 g.

Vấn đề quan trọng trong công nghệ biofloc là tạo điều kiện tối ưu để vi sinh vật dị dưỡng phát triển, hấp thụ amonium, tạo sinh khối làm thức ăn cho vật nuôi. Vi sinh vật dị dưỡng sử dụng C hữu cơ được bổ sung và nguồn N thải ra từ thức ăn để tổng hợp nên protein. Nếu bổ sung C với tỷ lệ thích hợp sẽ tăng cường quá trình chuyển hóa N vô cơ thành protein trong sinh khối vi sinh vật. Theo Widanarni et al. (2010) khi bổ sung rỉ đường vào môi trường ương tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei), thì tỉ lệ C/N = 10 cho tốc độ tăng trưởng và năng suất cao nhất. Carbon hữu cơ thường được sử dụng là các carbohydrate như tinh bột, rỉ đường, cám gạo, glycerol… hoặc bằng cách thay đổi thành phần thức ăn: tăng hàm lượng carbohydrate và giảm protein (Tỷ lệ C trong carbohydrate thường là 50%).

4. Các nghiên cứu trong nước

Kết quả ứng dụng công nghệ biofloc trong nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamie ở Việt Nam cũng đạt mục tiêu mục tiêu giảm ô nhiễm môi trường, tăng tỷ lệ sống, năng suất và giảm trên 20 % hệ số thức ăn của tôm (Nguyễn Thị Thu Hiền và Nguyễn Văn Huấn, 2013). Kết quả cho thấy các ao nuôi theo công nghệ biofloc ở Hải Phòng có bổ sung nguồn cacbon là mật rỉ đường, tỷ lệ C/N là 12 đạt năng suất 17,6 tấn/ha/vụ với hệ số thức ăn là 0,92. Tương tự, trong các ao nuôi ở Bạc Liêu năng suất đạt được 15,9 tấn/ha/vụ, và hệ số thức ăn là 1,03.

Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ cũng đã có các nghiên cứu ứng dụng biofloc trong ương nuôi tôm thẻ chân trắng, và nuôi cá rô phi. Kết quả nghiên cứu của Châu Tài Tảo và ctv. (2015a) ương tôm chân trắng theo công nghệ Biofloc ở mật độ 2.000 con/m3 cho kết quả tăng trưởng nhanh nhất (đạt chiều dài 4,69 mm sau 28 ngày). Sự hình thành của biofloc trong ao nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó độ sâu mực nước ao nuôi. Châu Tài Tảo và ctv (2015b) đã thí nghiệm ương tôm chân trắng theo công nghệ Biofloc ở các mức nước khác nhau (40, 60 và 80 cm). Tôm giống PL12 được nuôi ở mật độ 2.000 con/m3, độ mặn 15 ‰, trong thời gian 28 ngày; sử dụng nguồn bột mì và bột đậu nành để tạo biofloc với tỉ lệ C/N >12; kết quả cho thấy thể tích biofloc ở mức nước 80 cm là cao nhất (12,7 ± 6,2 ml/L), tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm tốt nhất.

Lê Quốc Việt (2015), nghiên cứu nuôi tôm thẻ chân trắng ở các mật độ 150, 200, 250 và 300 con/m3 ghép với cá rô phi với mật độ 4 con/m3 và kết hợp với biofloc (C/N = 15), sau 60 ngày nuôi kết quả tôm nuôi ở mật độ 150 và 200 con/m3 có tốc độ tăng trưởng về khối lượng nhanh, tỷ lệ sống cao, FCR thấp hơn có ý nghĩa so với các nghiệm thức khác. Tuy nhiên, năng suất thu được ở các mật độ nuôi khác nhau khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Tạ Văn Phương và ctv. (2014) nghiên cứu cách bổ sung carbon hữu cơ, cũng kết luận rằng, việc bổ sung bột gạo với tỷ lệ C:N là 15:1 sau khi được ủ 48 giờ sẽ cho kết quả sinh khối bioflocs, môi trường nước và tăng trưởng tôm nuôi tốt nhất.

Tài liệu tham khảo

Avnimelech, Y, 2012. Bio-floc Technology-A Practical Guide Book, 2nd Edition. The World Aquaculture Society, Baton Rouge, Louisiana, United States. 173 pp.

Avnimelech, Y., Kochva, M., Diab, S., 1994. Development of controlled intensive aquaculture systems with a limited water exchange and adjusted carbon to nitrogen ratio. Israel J. Aquaculture Bamidgeh 46 (3), 119–131.

Bergheim, A., A. Drengstig, Y. Ulgenes, and S. Fivelstad, 2008. Dominating Systems for Production of Atlantic Salmon Smolt in Europe. Proceedings of the Aquacultural Engineering Society’s Fourth Issues Forum. 59-72.

Châu Tài Tảo, Hồ Ngọc Ngà, Trần Ngọc Hải. 2015a. Ảnh hưởng của mật độ lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) ương giống theo công nghệ biofloc, Tạp chí khoa học, Đại học Cần Thơ.

Châu Tài Tảo, Lý Minh trung, Trần Ngọc Hải. 2015b. Nghiên cứu ương giống tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) ở các mức nước khác nhau theo công nghệ biofloc, Tạp chí khoa học, Đại học Cần Thơ.

De Schryver, P., R. Crab, T. Defroit, N. Boon, and W. Verstraete. 2008. The basic of bio-flocs technology: The added value for aquaculture. Aquaculture 277, 125- 137.

Del Campo, L.M., P. Ibarra, X. Gutiérrez, H. Takle, 2010. Utilization of sludge from Recirculation aquaculture systems. Nofina report 9/2010. 73pp.

Emerenciano Maurício, Gerard Cuzon, Korynthia López Aguiar, Elsa NoreñaBarroso, Maite Máscaro and Gabriela Gaxiola, 2011. Bio-floc meal pellet and plant-based diet As AN alternative nutrition for shrimp under limited water exchange system. World Aquaculture 2011.Metcalf and Eddy, 2003. Wastewater Engineering: Treatment and Reuse, 4th edition.

Hari, B., Madhusoodana Kurup, B., Varghese, J.T., Schrama, J.W., Verdegem, M.C.J., 2006. The effect of carbohydrate addition on water quality and the nitrogen budget in extensive shrimp culture systems. Aquaculture 252 (2–4), 248– 263.

Hochheimer, J. N and F. Wheaton, 1998. Biological filters: Trickling and RBC design. The second international conference on recirculating aquacultrure (pages 291-317).

Kristensen, T., Å. Åtland, T. Rosten, H. A. Urke, B.O. Rosseland, 2009. Important influentwater quality parameters at freshwater production systems in two salmon producing countries. Aquacult. Eng. 41, 53-59.

Lê Quốc Việt, Trần Ngọc Hải, Lý Văn Khánh, Trần Minh Nhứt, Tạ Văn Phương, 2015. Ứng dụng biofloc nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) với mật độ khác nhau kết hợp với cá rô phi (Oreochromis niloticus). Tạp chí khoa học Đại học Cần Thơ, Số 38(2015): 44-52

Losordo, T.M., M.P. Masser, and J. Rakocy, 1999. Recirculating Aquaculture Tank Production Systems: A Review of Component Options. SRAC Publication No. 453, 12p.

Martins C.I.M. , E.H. Eding, M.C.J. Verdegema, L.T.N. Heinsbroeka, O. Schneiderc, J.P. Blanchetond , E. Roque d’Orbcasteld and J.A.J. Verretha, 2010. New developments in recirculating aquaculture systems in Europe: A perspective on environmental sustainability. Aquacultural Engineering November 2010, Volume 43, Issue 3, Pages 83-93.

Martins, C.I.M., E.H. Eding, O. Schneider, R. Rasmussen, B. Olesen, L. Plesner, J.A.J. Verreth, 2005. Recirculation Aquaculture Systems in Europe. CONSENSUS. Oostende, Belgium, Consensus working Group, European Aquaculture Society: 31.

Nyan, 2010. Biofloc Technology Expanding At White Shrimp Farms. Biofloc Systems Deliver High Productivity With Sustainability. Global Aquaculture T3-9, KPMG Tower, 8 First Avenue Persiaran Bandar Utama, 47800, Petaling Jaya, Selangor, Malaysia.

Nguyễn Thanh Phương, Trần Ngọc Hải, Trần Thị Thanh Hiền Marcy N. Wilder, 2003. Nguyên lý và kỹ thuật sản xuất giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii). Nhà xuất bản Nông nghiệp, 127 trang

Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Văn Huấn, 2013. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ biofloc trong nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) qui mô sản xuất. Bản tin số 9/2013. Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy sản I.

Phạm Thị Tuyết Ngân, Tô Công Tâm, Trương Quốc Phú, 2008. Ảnh hưởng của bổ sung dầu thực vật lên sự đa dạng quần thể vi sinh vật trong bể lọc sinh học. Tạp chí khoa học, Đại học Cần Thơ, 2008 (1): T33-34.

Sanni, S. and O.I. Forsberg, 1996. Modelling pH and carbon dioxide in single-pass seawater aquaculture systems.Aquacultural Engineering 15(2): 91 – 110.

Tạ Văn Phương, Nguyễn Văn Bá, Nguyễn Văn Hòa (2014). Ảnh hưởng của thời gian thủy phân và phương thức bổ sung bột gạo lên năng suất tôm thẻ chân trắng. Tạp chí khoa học ĐHCT, Số chuyên đề Thủy sản 2014, tập 2. Trang 54-62.

Terjesen, B. F., Y. Ulgenes, S.O. Færa, S.T. Summerfelt, P. Brunsvik, G. Baeverfjord, S. Nerland, H. Takle, O. C. Norvik, , A. Kittelsen, 2008. RAS research facility dimensioning and design: a special case compared to planning production systems. In Aquaculture Engineering Society Issues Forum Proceedings. Roanoke, Virginia, 23rd-24th July, 223-238.

Timmons, M.B., J.M. Ebling, F.W. Wheaton, S.T. Summerfelt and B.J. Vinci (2002). Recirculating Aquaculture Systems 2nd Edition. Northern Regional Aquaculture Center Publication No. 01 I002. Cayuga Aqua Ventures Ithaca, New York.

Widanarni, Deby Yuniasari, Sukenda, Julie Ekasari, 2010. Nursery Culture Performance of Litopenaeus vannamei with Probiotics Addition and Different C/N Ratio Under Laboratory Condition. HAYATI Journal of Biosciences September 2010 Vol. 17 No. 3, p 115-11.

[1]Phạm Thanh Liêm, 1,2 Cao văn Thích, 1Châu Tài Tảo & 1Trần Ngọc Hải

Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ

1: Trường Đại học Cần Thơ, 2: Trường Trung cấp Kinh tế – Kỹ thuật An Giang

Khoa Thủy sản – Trường Đại học Cần Thơ

Đăng ngày: 30/11/2015