1. Hoạt động ứng dụng chuyển giao công nghệ tại các Trung tâm Ứng dụng vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm 2020
a. Kết quả đạt được
Về nguồn nhân lực
Nhìn chung, nhân lực tại các Trung tâm Ứng dụng dao động từ 20-30 nhân sự/Trung tâm. Tổng số viên chức, người lao động tại các Trung tâm là 341 người; trong đó trình độ sau đại học chiếm 28%, đại học chiếm 72%. Tuy nhiên, số nhân lực hoạt động trong mảng ứng dụng chuyển giao công nghệ chỉ chiếm 50% trong tổng số người làm việc. Nguyên nhân chính là do đa số các Sở KH&CN vùng ĐBSCL đã thực hiện việc sáp nhập các đơn vị sự nghiệp trực thuộc. Vì vậy, Trung tâm không chỉ thực hiện chức năng ứng dụng chuyển giao công nghệ mà còn thực hiện nhiệm vụ thông tin thống kê KHCN, tiêu chuẩn đo lường chất lượng.

Hình 1: Sống lượng viên chức, người lao động tại các trung tâm

Hình 2: Trình độ nguồn nhân lực
Về nghiên cứu và làm chủ công nghệ
Trong năm qua, các Trung tâm đã nghiên cứu làm chủ 36 công nghệ/sản phẩm công nghệ và 10 quy trình sản xuất trong nông nghiệp

Hình 3: Số lượng công nghệ/quy trình công nghệ
Một Trung tâm nổi bật như:
– Trà Vinh: Công nghệ vi phẩu tôm càng xanh toàn đực; Công nghệ sản xuất vật liệu composite (Doanh thu 780 triệu đồng)
– Bến Tre: Quy trình nhân giống chuối sáp nghệ bằng phương pháp nuôi cấy mô, giống chuối sạch bệnh, phát triển mạnh, Chế phẩm (nấm xanh, trichoderma, compost maker, …), Rượu linh chi (Doanh thu 825 triệu đồng)
– Cà Mau: Chế phẩm sinh học EMOZEO (doanh thu 1,8 tỷ)
– Long An: Công nghệ TĐC (Doanh thu 2,6 tỷ)
– Tiền Giang: 05 công nghệ (phân lập và tuyển chọn các loại nấm ăn và nấm dược liệu; Công nghệ sản xuất bịch phôi nuôi trồng các loại nấm ăn và nấm dược liệu; E.M; Công nghệ: Sản xuất các sản phẩm bằng vật liệu nhựa composite; Công nghệ Lắp đặt các hệ thống xử lý nước uống đóng chai, nước cấp sinh hoạt, nước thải, khí, khói, bụi (Doanh thu 13,8 tỷ)
Về hoạt động ứng dụng chuyển giao công nghệ
Hoạt động ứng dụng chuyển giao công nghệ tại các Trung tâm được thực hiện thông qua các đề tài dự án KH&CN: trong năm 2020, tại 13 tỉnh/thành Vùng ĐBSCL, các Trung tâm đã thực hiện 86 đề tài dự án KHCN các cấp, các mô hình ứng dụng công nghệ với tổng kinh phí trên 55 tỷ đồng.

Hình 4: Số lượng đề tài dự án thực hiện năm 2020
Các lĩnh vực trọng tâm thực hiện như:
– Nuôi cấy mô: nhân giống chuối sáp nghệ (Cà Mau), giống hoa kiểng chất lượng cao (Cần Thơ), dừa sáp (Trà Vinh)
– Nuôi thủy sản (nuôi cua thương phẩm quảng canh cải tiến 2 giai đoạn, sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá đồng (Cà Mau) ); cá trê vàng, cá lóc bông, cá chốt sọc (Long An); cá lóc đồng (Sóc Trăng)
– Ứng dụng công nghệ sinh học trong các lĩnh vực: nghiên cứu chế phẩm sinh học ứng dụng trong chăn nuôi, thủy sản (Cần Thơ, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Trà Vinh); chế phẩm sinh học từ hèm rượu, cám gạo, phân trùn quế (Long An), hệ thống phát hiện nhanh để sàng lọc chủng virus corona mới; Chế tạo và thẩm định chứng dương nhân tạo và đoạn mồi chẩn đoán tác nhân gây viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virut corona (Cần Thơ)
– Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ (mô hình trồng chuối già Philiphine; mô hình trồng xen canh chanh không hạt với đu đủ ruột vàng trên vùng đất phèn nặng (Cà Mau), sản xuất mè luân canh trên nền đất lúa (Đồng Tháp); sản xuất rau sạch trong nhà lưới, ứng dụng đèn năng lượng mặt trời chiếu sáng tuyến đường biên giới (Long An); dưa lưới, đậu phộng vỏ (Trà Vinh); mô hình và tập huấn kỹ thuật trồng cây thanh long ruột đỏ ứng dụng công nghệ cao tại 02 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (An Giang), giá thể hữu cơ (Vĩnh Long)
– Nâng cao chất lượng nông sản tại địa phương: trái bưởi da xanh, cam mật không hạt, mãng cầu gai, rau đắng đất, Khóm Hậu Giang, dưa lưới đạt tiêu chuẩn GlobalGAP (Hậu Giang), đu đủ da xanh ruột vàng theo hướng VietGAP, nấm Trân Châu (Kiên Giang), nấm ăn (Vĩnh Long
Bên cạnh đó công tác ứng dụng chuyển giao công nghệ được tiến hành thông qua các hợp đồng chuyển giao công nghệ với 439 hợp đồng dịch vụ KHCN, tư vấn chuyển giao công nghệ với doanh thu mang lại xấp xỉ 35,9 tỷ đồng.
Nguồn thu tại các Trung tâm Ứng dụng
Nhìn chung hiện nay tại các Trung tâm nguồn thu chủ yếu từ nguồn Nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng; Doanh thu từ dịch vụ KHCN, tư vấn chuyển giao công nghệ; Doanh thu từ công nghệ/sản phẩm công nghệ; Kinh phí đề tài dự án và thu từ các dịch vụ công. Trong đó, nguồn từ doanh thu dịch vụ (dịch vụ KHCN, tư vấn chuyển giao công nghệ, thương mại hóa các công nghệ, sản phẩm công nghệ) chiếm tỷ lệ khoảng 42%, với tổng giá trị khoảng 57,9 tỷ; tiếp theo là đề tài dự án chiếm khoảng 40 %, tương đương 55 tỷ tại 13 Trung tâm; kinh phí nhiệm vụ thường xuyên nhận được khoảng 17 tỷ. Tuy nhiên, tại mỗi trung tâm cơ cấu nguồn thu có sự khác nhau. Tại các Trung tâm tại các tỉnh Bến Tre, Long An, Kiên Giang, Tiền Giang nguồn thu từ hoạt đông dịch vụ chiếm tỷ lại cao so với đề tài dự án. Trong khi đó tại, Cần Thơ, Cà Mau, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, nguồn thu từ đề tài dự án chiếm tỷ lệ cao hơn. Ngoài ra, tại Long An, Đồng Tháp, Trung tâm Ứng dụng được giao thực hiện một số dịch vụ công mang lại nguồn thu đáng kể cho đơn vị (tổng 8,2 tỷ).
b. Khó khăn
– Về nguồn nhân lực: do trong quá trình kiện toàn nên một bộ phận cán bộ, công chức và người lao động của các Trung tâm chưa phát huy đầy đủ năng lực và còn thiếu tính chủ động, sáng tạo đối với các hoạt động dịch vụ, tư vấn và kinh doanh trong lĩnh vực kết nối cung-cầu, chuyển giao công nghệ. Hơn nữa, do hạn chế của các quy định về biên chế, tự chủ nguồn kinh phí hoạt động nên còn thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao (trình độ trên đại học, tiến sỹ, phó giáo sư, giáo sư,..) và yếu về trình độ chuyên môn, kỹ năng,… dẫn đến tình trạng một nhân sự phải kiêm nhiệm cùng lúc nhiều nhiệm vụ hoặc cùng lúc tham gia nhiều đề tài, dự án làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công việc
– Cơ chế: Thiếu cơ chế sử dụng kinh phí cho các hoạt động quảng bá hình ảnh, quảng bá sản phẩm khoa học công nghệ mới của Trung tâm ra thị trường, chính sách hoa hồng trong kinh doanh không đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp tư nhân, thiếu kinh phí đầu tư cho công tác khảo nghiệm, đánh giá công nghệ mới; nghiên cứu thị trường, mẫu mã, chủng loại sản phẩm mới,… Ngoài ra cơ chế chính sách hỗ trợ chuyển giao ứng dụng, đổi mới công nghệ: vẫn còn nhiều vướng mắc thủ tục, quy trình xét duyệt còn phức tạp,… đặc biệt là nhiều doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng được nguồn vốn đối ứng (cụ thể là doanh nghiệp gặp khó khăn vì không có tài sản thế chấp, các Quỹ bảo lãnh tính dụng không chấp nhận tài sản thế chấp là bằng sáng chế, công nghệ,…) nên các Trung tâm gặp nhiều khó khăn trong việc tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ.
– Cơ sở vật chất kỹ thuật: Một số Trung tâm cơ sở vật chất (nhà làm việc, phòng thí nghiệm) đã được đầu tư trang bị từ năm 2015 hiện đã xuống cấp; trang thiết bị đầu tư thiếu đồng bộ dẫn đến khó khăn trong khai thác và mang lại hiệu quả hoạt động
– Hoạt động dịch vụ: do tính chất tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của các địa phương trong khu vực nên mặc dù có sự đa dạng về công nghệ, sản phẩm nhưng các Trung tâm chủ yếu phục vụ tại địa phương mình; chưa tạo được nhiều sản phẩm và dịch vụ chủ lực có thể áp dụng đại trà cho một địa bàn rộng lớn. Hơn nữa, tính tương đồng của các địa phương còn tạo ra sự cạnh tranh giữa các sản phẩm/công nghệ cùng lĩnh vực. Đặc biệt, đối với hoạt động thương mại hoá sản phẩm được sản xuất từ công nghệ mới (do các Trung tâm sản xuất hoặc các Doanh nghiệp được chuyển giao công nghệ sản xuất) vẫn còn thiếu đề án quảng bá chung, các Trung tâm chưa xây dựng được chính sách hỗ trợ quảng bá, chính sách bán hàng nên chưa tạo được tính cạnh tranh cho các sản phẩm, chưa mang lại lợi ích cao cho các doanh nghiệp tham gia ký gởi sản phẩm/công nghệ tại các điểm kết nối, trưng bày sản phẩm công nghệ.
– Về tính đa dạng và sức cạnh tranh của các sản phẩm: sản phẩm được sản xuất từ hoạt động chuyển giao KH&CN còn thiếu đa dạng; chủ yếu là các sản phẩm như nước uống đóng chai, rượu đóng chai, nấm các loại. Bên cạnh đó, nhiều sản phẩm mới từ nghiên cứu khoa học khó tiếp cận với thị trường do chịu sự tác động của nhiều yếu tố như quy định công bố chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm,…
2. Nhiệm vụ đặt ra
Theo tinh thần Nghị quyết 120
– Đẩy mạnh nghiên cứu về các vấn đề bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, giảm nhẹ các tổn thương, tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu gây ra đối với đồng bằng sông Cửu Long; tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long.
– Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp.
– Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương liên quan triển khai có hiệu quả các chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm, ưu tiên bố trí nguồn lực khoa học, công nghệ có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm hiệu quả, thực chất nhằm phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.
3. Đề xuất – Kiến nghị
a. Đối với Sở Khoa học và Công nghệ
Hỗ trợ, giao nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng hằng năm cho Trung tâm để hoạt động ổn định, hiệu quả.
Quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi trong việc kiện toàn tổ chức bộ máy và hoàn chỉnh đề án tự chủ theo Nghị định 54/2016/NĐ-CP.
Tăng cường đầu tư nâng cao năng lực về cơ sở vật chất và trang thiết bị từ nguồn sự nghiệp KH&CN cho Trung tâm. Tạo điều kiện để Trung tâm phát triển các hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo nguồn kinh phí đầu tư và nâng cao thu nhập cho cán bộ viên chức, người lao động.
Tạo điều kiện để Trung tâm được đặt hàng hoặc tham gia tuyển chọn thực hiện một số nhiệm vụ KHCN cấp cơ sở, cấp tỉnh, cấp Nhà nước.
Tạo điều kiện cho viên chức và người lao động của Trung tâm được tập huấn về kiến thức quản lý KHCN, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị.
c. Đối với UBND các tỉnh, thành phố
Quan tâm và ưu tiên kinh phí cho các dự án đầu tư tăng cường tiềm lực KH&CN đối với Trung tâm thực hiện theo Quyết định 317/QĐ-TTg ngày 15/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ (Đầu tư trụ sở, nhà xưởng, phòng thí nghiệm, trại thực nghiệm để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn cho Trung tâm ứng dụng tiến KH&CN).
Đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động của Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN.
Tạo điều kiện cho Trung tâm được triển khai các đề tài, dự án thuộc các Chương trình KH&CN quốc gia, đề tài dự án cấp tỉnh.
Bố trí kinh phí thông qua nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng; nhiệm vụ khoa học công nghệ và các nhiệm vụ khác cho Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN để đảm bảo hoạt động ổn định, hiệu quả.
Có cơ chế, chính sách để hỗ trợ kinh phí cho các viên chức của Trung tâm trong việc đào tạo, nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ.
d. Đối với Bộ Khoa học và Công nghệ
Tiếp tục tạo điều kiện hỗ trợ cho các địa phương đầu tư tăng cường tiềm lực cho Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ theo Quyết định số 317/QĐ-TTg ngày 15/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Ban hành cơ chế tài chính hướng dẫn quy định đối với các nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng đặt hàng cho các Trung tâm.
Bộ KH&CN tiếp tục quan tâm, hướng dẫn để các Trung tâm hoạt động hiệu quả sau khi sáp nhập, hợp nhất.
Hỗ trợ về cơ chế, chính sách để các Trung tâm được tiếp cận và tham gia thực hiện các Chương trình KH&CN cấp quốc gia, đặc biệt là Chương trình nông thôn miền núi và Chương trình 592.
Cung cấp thông tin công nghệ và chia sẻ cơ sở dữ liệu về công nghệ từ trung ương đến địa phương; hỗ trợ củng cố các điểm kết nối cung – cầu công nghệ.
Hằng năm tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ phát triển thị trường khoa học và công nghệ, tư vấn môi giới công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất chất lượng cho doanh nghiệp, lớp đào tạo kỹ sư, kỹ sư chính,…tập huấn thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp cho các cán bộ viên chức Trung tâm.
Cần có chính sách hỗ trợ liên kết cho các sản phẩm nông nghiệp khi áp dụng tiến bộ KH&CN để tạo động lực cho nông dân tham gia và nhân rộng mô hình hiệu quả, nhất là đối với các sản phẩm sạch.
Ban hành quy định tiêu chí, tiêu chuẩn, nội dung, quy trình cung cấp dịch vụ, định mức kinh tế kỹ thuật và hướng dẫn triển khai thực hiện cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước.
Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ hoạt động ứng dụng và chuyển giao công nghệ theo hình thức khoán đối với đề tài, dự án; đồng thời sớm triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT/BKHCN-BTC để đơn vị chủ trì thực hiện được chủ động trong việc triển khai nhiệm vụ./.
Nguyễn Thị Vân
Đăng ngày: 12/11/2020