I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
Khối Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Khối Ứng dụng) chính thức thành lập ngày 15/10/2014 với mục đích ban đầu nhằm thông qua hoạt động liên kết giữa các Trung tâm trong cùng lĩnh vực, xây dựng mối quan hệ hợp tác trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của các đơn vị và tìm kiếm giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động về ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất đời sống, góp phần phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Đây là mô hình liên kết mới nhằm thúc đẩy sự liên kết, hợp tác để phát huy vai trò của chủ thể trung gian kết nối cung-cầu KH&CN, đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng công nghệ và góp phần phát triển thị trường KH&CN của các địa phương trong khu vực ĐBSCL và cả nước. Xuất phát từ bối cảnh hệ thống các văn bản pháp luật về phát triển thị trường KH&CN còn đang tiếp tục được hoàn thiện, tổ chức bộ máy và đầu tư cơ sở vật chất cho các Trung tâm ứng dụng mới ở giai đoạn đầu, chưa đồng bộ giữa các địa phương,.. nên khối Ứng dụng vừa hoạt động, vừa hoàn thiện trong cơ cấu tổ chức, đề ra phương hướng phát triển, cũng như kế hoạch triển khai trong từng giai đoạn.
Do mỗi địa phương có đặc điểm khác nhau nên nhu cầu chuyển giao ứng dụng của từng địa phương cũng khác nhau nhưng có đặc điểm chung là nguồn cung công nghệ có tính tương đồng, một công nghệ mới mặc dù được tạo ra ở địa phương này nhưng có thể áp dụng cho các địa bàn có đặc điểm tương tự; đồng thời điểm chung cơ bản là thực hiện chức năng kết nối cung-cầu và chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào sản xuất và đời sống của các Trung tâm Ứng dụng. Giải pháp chung có thể áp dụng là thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ (KHCN), các đề tài-dự án KHCN, dự án Sản xuất thử nghiệm (cấp cơ sở, cấp Tỉnh/Thành phố, cấp Bộ),.. các Trung tâm có thể triển khai tốt chức năng nhiệm vụ và đẩy mạnh thực hiện các dịch vụ KHCN; chuyển giao khoa học công nghệ; dịch vụ phân tích kiểm nghiệm (TĐC), thông tin KHCN tùy theo yêu cầu của địa phương.
Thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW của TW6 Khóa XII, Nghị quyết số 08/NQ-CP của Chính phủ giai đoạn 2016 – 2020, 20/22 Trung tâm thuộc khối đã xây dựng và được phê duyệt đề án sáp nhập Trung tâm Thông tin KH&CN, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN và Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng. Vì vậy, hiện nay, tên gọi của các Trung tâm có sự khác biệt tùy theo đề án phê duyệt tại mỗi địa phương.
Về thực hiện theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 của Chính phủ Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Các Trung tâm thuộc khối đã xây dựng và được phê duyệt Phương án tự chủ. Có 08 Trung tâm thực hiện theo điểm c, khoản 2, Điều 3; 09 Trung tâm thực hiện theo điểm b, khoản 2, Điều 3; 01 Trung tâm thực hiện theo điểm d, khoản 2, Điều 3 Nghị định số 54/2016/NĐ-CP.
Tình hình chung về khó khăn, thuận lợi; tổng hợp từ báo cáo hoạt động của các Trung tâm trong năm 2020, ghi nhận:
+ Thuận lợi
– Có được sự ủng hộ, giúp đỡ từ Bộ KH&CN, Cục Ứng dụng và Phát triển Công nghệ, các Vụ; các Sở KH&CN các tỉnh, thành phố và các Viện Trường, cơ quan nghiên cứu và tổ chức KH&CN công lập và tư nhân hoạt động trên địa bàn nên các Trung tâm không chỉ làm tốt chức năng nhiệm vụ mà còn chủ động sáng tạo trong nghiên cứu tạo ra nhiều sản phẩm, quy trình công nghệ tiên tiến phục vụ đời sống, sản xuất.
– Mặc dù còn nhiều khó khăn và đang trong quá trình kiện toàn nhưng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động luôn nhiệt tình, năng động, sáng tạo trong công tác.
– Hoạt động của các Trung tâm luôn bám sát theo định hướng phát triển và góp phần vào sự phát triển chung của địa phương.
– Một số Trung tâm đã được đầu tư cơ sở vật chất (trụ sở, phòng kiểm định, nhà xưởng, khu thực nghiệm, trang trại) nên có được điều kiện thuận lợi trong việc tiến hành các hoạt động dịch vụ, tạo ra nguồn thu ổn định.
– Bên cạnh chức năng nhiệm vụ thường xuyên đăng ký hằng năm, các Trung tâm còn tích cực đăng ký thực hiện các nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh, cấp cơ sở và các chương trình mục tiêu quốc gia (chẳng hạn như Nông thôn miền núi) để vừa nâng cao năng lực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ vừa nâng cao trình độ của đội ngũ, tăng cường nguồn thu, đảm bảo đời sống cho người lao động.
– Hầu hết các Trung tâm đều triển khai hiệu quả các hoạt động hợp tác liên kết, phối hợp với các tổ chức KH&CN trên địa bàn trong quá trình thực hiện các đề tài, dự án cũng như xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ. Từ đó tạo ra được nhiều kết quả nghiên cứu, công nghệ có thể chuyển giao, tạo ra nhiều sản phẩm thương mại từ công nghệ được chuyển giao chẳng hạn như cây cấy mô sạch bệnh đối với hoa lan, chuối cấy mô…; các chế phẩm EM, nấm MA, phôi nấm linh chi, nấm bào ngư,..
– Nhiều trung tâm sở hữu các công nghệ sẳn sàng thương mại hóa hoặc sẵn sàng chuyển giao như hệ thống xử lý nước sinh hoạt, nước thải, các sản phẩm từ composite, các quy trình kỹ thuật trồng hoa, nấm, hệ thống chống sét thẳng,.. Đặc biệt là, nhiều trung tâm đã kết nối thành công với các Doanh nghiệp KH&CN, tổ chức các nhân có công nghệ để chuyển giao vào sản xuất, đời sống.
+ Khó khăn
Đối với hoạt động của Khối:
– Do Khối được hình thành trên cơ sở tự nguyện liên kết giữa các Trung tâm Ứng dụng nên nhiều hoạt động của khối còn mang tính vận động, thiếu cơ sở pháp lý trong việc đề xuất các cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Khối đối với các cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý.
– Hơn nữa, do mỗi địa phương có tính đặc thù cao về tổ chức quản lý, điều hành và điều kiện phát triển kinh tế xã hội khác nhau nên hoạt động của các Trung tâm thành viên cũng có tính chất khác nhau dẫn đến gặp nhiều khó khăn khi bàn bạc, thảo luận, triển khai các nhiệm vụ chung của Khối. Vì vậy, trong quá trình hoạt động của Khối cần bàn bạc thảo luận, xác định định hướng phát triển chung, mang tính tương đồng cao và xác định các giải pháp tối ưu để hỗ trợ tích cực cho các Trung tâm thành viên phát huy được sức mạnh riêng và đóng góp chung vào sự lớn mạnh của Khối.
Đối với hoạt động của các Trung tâm thành viên cũng có những khó khăn như:
– Dưới ảnh hưởng của dịch COVID-19, tình hình triển khai các hoạt động ứng dụng KH&CN (tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn) bị đình trệ, cũng như nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ bị giảm sút so với năm 2019.
– Về nguồn nhân lực: do trong quá trình kiện toàn nên một bộ phận cán bộ, công chức và người lao động của các Trung tâm chưa phát huy đầy đủ năng lực và còn thiếu tính chủ động, sáng tạo đối với các hoạt động dịch vụ, tư vấn và kinh doanh trong lĩnh vực kết nối cung-cầu, chuyển giao công nghệ. Hơn nữa, do hạn chế của các quy định về biên chế, tự chủ nguồn kinh phí hoạt động nên còn thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao (trình độ trên đại học, tiến sỹ, phó giáo sư, giáo sư,..) và yếu về trình độ chuyên môn, kỹ năng,… dẫn đến tình trạng một nhân sự phải kiêm nhiệm cùng lúc nhiều nhiệm vụ hoặc cùng lúc tham gia nhiều đề tài, dự án làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công việc.
– Về kinh phí hoạt động: do phần lớn các Trung tâm thành viên thực hiện tự chủ (một phần hoặc toàn bộ) chi thường xuyên nên cần phát triển hoạt động dịch vụ để tăng nguồn thu trong khi phải cạnh tranh với các tổ chức cung cấp dịch vụ khu vực tư nhân. Thiếu cơ chế sử dụng kinh phí cho các hoạt động quảng bá hình ảnh, quảng bá sản phẩm khoa học công nghệ mới của Trung tâm ra thị trường, thiếu kinh phí đầu tư cho công tác khảo nghiệm, đánh giá công nghệ mới; nghiên cứu thị trường, mẫu mã, chủng loại sản phẩm mới,…
– Về cơ sở vật chất: một số Trung tâm cơ sở vật chất (nhà làm việc, phòng thí nghiệm) đã được đầu tư trang bị từ năm 2015 hiện đã xuống cấp; trang thiết bị đầu tư thiếu đồng bộ dẫn đến khó khăn trong khai thác và mang lại hiệu quả hoạt động
– Về thực hiện các đề tài/dự án: hiện tại việc triển khai thực hiện các dự án, đề tài ứng dụng vẫn dựa vào nguồn ngân sách nhà nước, thực hiện các thủ tục thanh quyết toán theo quy định chung nên hoạt động này xem như mang lại nguồn thu cho các Trung tâm.
– Về hoạt động dịch vụ: do tính chất tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của các địa phương trong khu vực nên mặc dù có sự đa dạng về công nghệ, sản phẩm nhưng các Trung tâm chủ yếu phục vụ tại địa phương mình; chưa tạo được nhiều sản phẩm và dịch vụ chủ lực có thể áp dụng đại trà cho một địa bàn rộng lớn. Hơn nữa, tính tương đồng của các địa phương còn tạo ra sự cạnh tranh giữa các sản phẩm/công nghệ cùng lĩnh vực. Đặc biệt, đối với hoạt động thương mại hoá sản phẩm được sản xuất từ công nghệ mới (do các Trung tâm sản xuất hoặc các Doanh nghiệp được chuyển giao công nghệ sản xuất) vẫn còn thiếu đề án quảng bá chung, các Trung tâm chưa xây dựng được chính sách hỗ trợ quảng bá, chính sách bán hàng nên chưa tạo được tính cạnh tranh cho các sản phẩm, chưa mang lại lợi ích cao cho các doanh nghiệp tham gia ký gởi sản phẩm/công nghệ tại các điểm kết nối, trưng bày sản phẩm công nghệ.
– Về tính đa dạng và sức cạnh tranh của các sản phẩm: sản phẩm được sản xuất từ hoạt động chuyển giao KH&CN còn thiếu đa dạng; chủ yếu là các sản phẩm như nước uống đóng chai, rượu đóng chai, nấm các loại. Bên cạnh đó, nhiều sản phẩm mới từ nghiên cứu khoa học khó tiếp cận với thị trường do chịu sự tác động của nhiều yếu tố như quy định công bố chất lượng sản phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm,…
– Về cơ chế chính sách hỗ trợ chuyển giao ứng dụng, đổi mới công nghệ: vẫn còn nhiều vướng mắc thủ tục, quy trình xét duyệt còn phức tạp,… đặc biệt là nhiều doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng được nguồn vốn đối ứng (cụ thể là doanh nghiệp gặp khó khăn vì không có tài sản thế chấp, các Quỹ bảo lãnh tính dụng không chấp nhận tài sản thế chấp là bằng sáng chế, công nghệ,…) nên các Trung tâm gặp nhiều khó khăn trong việc tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ.
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CỦA KHỐI TRONG NĂM 2020
1. Hoạt động chung
Trong năm 2020, Khối Ứng dụng đã tổ chức 01 lần họp giao ban vào tháng 1/2020 tại tỉnh Tây Ninh. Hội nghị có sự tham dự của 12 Trung tâm thành viên, lãnh đạo các Sở KH&CN. Qua đó, chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình hoạt động, đề ra định hướng hợp tác liên kết cũng như tập hợp những đề xuất, kiến nghị lên các cơ quan quản lý có thẩm quyền.
2. Xây dựng thị trường khoa học công nghệ vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Duy trì hoạt động của Điểm kết nối cung cầu công nghệ vùng Đồng bằng sông Cửu Long tại thành phố Cần Thơ (thành lập tháng 10 năm 2018), trưng bày 11 thiết bị và 81 sản phẩm công nghệ của các Trung tâm Ứng dụng thuộc Khối cũng như của các doanh nghiệp, hợp tác xã ứng dụng công nghệ vùng ĐBSCL.
3. Phát triển tổ chức Khối
Trong năm 2020, Khối kết nạp thêm 1 thành viên là Trung tâm Tư vấn đánh giá khoa học và Định giá công nghệ (thuộc Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ).
III. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG TÂM THÀNH VIÊN NĂM 2020 (Chi tiết xem Phụ lục đính kèm)
Trong năm 2020, mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch COVID 19, các Trung tâm Ứng dụng thuộc Khối đã có những điều chỉnh trong hoạt động, tích cực, chủ động trong việc lựa chọn định hướng phát triển phù hợp với khả năng và định hướng phát triển tại địa phương. Đến nay, nhiều trung tâm đã thể hiện vai trò nhất định trong phát triển khoa học công nghệ của địa phương. Những kết quả nổi bật đã đạt được:
1. Nhân lực
Tổng nhân lực của các Trung tâm là 420 (306 biên chế, 114 hợp đồng). Trong đó: trình độ tiến sĩ: 1%, thạc sĩ: 23%, đại học: 55%. Tuy nhiên, chỉ có 41% nhân lực trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ. Nguyên nhân do đa số các Trung tâm đã thực hiện việc sáp nhập nên nguồn nhân lực phải phân bố vào 03 mảng là ứng dụng, thông tin và TĐC.
2. Thực hiện đề tài dự án
Theo số liệu tổng hợp từ các báo cáo của các Trung tâm, kết quả thực hiện các đề tài, dự án khoa học – công nghệ trong năm 2020 gồm:
- Cấp Bộ (thuộc chương trình Nông thôn miền núi) là: 4 đề tài/dự án;
- Cấp Tỉnh/Thành phố là: 20 đề tài/dự án;
- Cấp cơ sở: 38 đề tài/dự án /nhiệm vụ/SXTN.
- Mô hình ứng dụng CN: 15 mô hình
- Tổng kinh phí các đề tài dự án là 52,8 tỷ đồng
Các đề tài/dự án thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống tại các địa phương. Trong đó, tập trung vào các lĩnh vực:
– Nuôi cấy mô: nhân giống chuối sáp nghệ (Cà Mau), giống hoa kiểng chất lượng cao (Cần Thơ), dừa sáp (Trà Vinh)
– Nuôi thủy sản (nuôi cua thương phẩm quảng canh cải tiến 2 giai đoạn, sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá đồng (Cà Mau) ); cá trê vàng, cá lóc bông, cá chốt sọc (Long An); cá lóc đồng (Sóc Trăng)
– Ứng dụng công nghệ sinh học trong các lĩnh vực: nghiên cứu chế phẩm sinh học ứng dụng trong chăn nuôi, thủy sản (Cần Thơ, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Trà Vinh); chế phẩm sinh học từ hèm rượu, cám gạo, phân trùn quế (Long An), hệ thống phát hiện nhanh để sàng lọc chủng virus corona mới; Chế tạo và thẩm định chứng dương nhân tạo và đoạn mồi chẩn đoán tác nhân gây viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virut corona (Cần Thơ)
– Xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ (mô hình trồng chuối già Philiphine; mô hình trồng xen canh chanh không hạt với đu đủ ruột vàng trên vùng đất phèn nặng (Cà Mau), sản xuất mè luân canh trên nền đất lúa (Đồng Tháp); sản xuất rau sạch trong nhà lưới, ứng dụng đèn năng lượng mặt trời chiếu sáng tuyến đường biên giới (Long An); dưa lưới, đậu phộng vỏ (Trà Vinh); mô hình và tập huấn kỹ thuật trồng cây thanh long ruột đỏ ứng dụng công nghệ cao tại 02 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (An Giang), giá thể hữu cơ (Vĩnh Long)
– Nâng cao chất lượng nông sản tại địa phương: trái bưởi da xanh, cam mật không hạt, mãng cầu gai, rau đắng đất, Khóm Hậu Giang, dưa lưới đạt tiêu chuẩn GlobalGAP (Hậu Giang), đu đủ da xanh ruột vàng theo hướng VietGAP, nấm Trân Châu (Kiên Giang), nấm ăn (Vĩnh Long
3. Ứng dụng chuyển giao công nghệ
Trong năm 2020, hoạt động ứng dụng chuyển giao công nghệ tại các Trung tâm tập trung trong công tác xây dựng các mô hình ứng dụng công nghệ trong sản xuất (mô hình trồng chuối, khóm, dưa lưới, nấm, nuôi thủy sản,…). Bên cạnh đó, tại các Trung tâm đã tự nghiên cứu xây dựng các quy trình công nghệ, sản phẩm công nghệ mang lại hiệu quả cao. Doanh thu mang lại từ công nghệ và sản phẩm công nghệ tại các Trung tâm là 23 tỷ đồng. Một số công nghệ nổi bật như:
– Trà Vinh: Công nghệ vi phẩu tôm càng xanh toàn đực; Công nghệ sản xuất vật liệu composite (Doanh thu 780 triệu đồng)
– Bến Tre: Quy trình nhân giống chuối sáp nghệ bằng phương pháp nuôi cấy mô, giống chuối sạch bệnh, phát triển mạnh, Chế phẩm (nấm xanh, trichoderma, compost maker, …), Rượu linh chi (Doanh thu 825 triệu đồng)
– Cà Mau: Chế phẩm sinh học EMOZEO (doanh thu 1,8 tỷ)
– Long An: Công nghệ TĐC (Doanh thu 2,6 tỷ)
– Tiền Giang: 05 công nghệ (phân lập và tuyển chọn các loại nấm ăn và nấm dược liệu; Công nghệ sản xuất bịch phôi nuôi trồng các loại nấm ăn và nấm dược liệu; E.M; Công nghệ: Sản xuất các sản phẩm bằng vật liệu nhựa composite; Công nghệ Lắp đặt các hệ thống xử lý nước uống đóng chai, nước cấp sinh hoạt, nước thải, khí, khói, bụi (Doanh thu 13,8 tỷ)
4. Thực hiện Nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng
Trong năm 2020, các Trung tâm thuộc Khối thực hiện 44 nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng với tổng kinh phí được cấp là 17,1 tỷ. Các nhiệm vụ tập trung vào các lĩnh vực: tổ chức hội thảo, tập huấn chuyên môn thuộc ngành KH&CN; Tổ chức, tham dự các triển lãm công nghệ, chợ công nghệ (An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Đồng Nai); Thông tin, thống kê khoa học và công nghệ (Đồng Tháp, Cà Mau, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang); Quản lý NN về TC-ĐL-CL tại địa phương (Long An, Đồng Nai); Xây dựng mô hình ứng dụng KH&CN (Sóc Trăng); Bảo tồn khai khác các giống nấm (Tiền Giang), Sản xuất đất sạch giàu dinh dưỡng từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp (Cà Mau), Nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật chế biến thực phẩm đối với một số sản phẩm nông sản (An Giang)
5. Thực hiện Dịch vụ sự nghiệp công về KHCN
Trong năm, một số thành viên trong khối cũng đã thực hiện nhiều hoạt động dịch vụ sự nghiệp công về KHCN như: thực hiện dịch vụ phân tích thử nghiệm, kiểm định hiệu chuẩn phương tiện đo nhóm 2 (Đồng Tháp), Dịch vụ đo lường,thử nghiệm (Long An). Tổng doanh thu đạt 8,2 tỷ đồng.
6. Dịch vụ KH&CN, tư vấn chuyển giao công nghệ
Trong năm 2020, các Trung tâm thực hiện trên 350 Hợp đồng dịch vụ KH&CN, chuyển giao công nghệ với tổng doanh thu trên 50 tỷ. Chủ yếu là các hoạt động kiểm định, kiểm nghiệm, hiệu chuẩn, an toàn bức xạ, sản xuất và tiêu thụ chế phẩm sinh học, cung cấp giống cây trồng, lắp đặt công nghệ khử mặn cấp nước ngọt.
IV. PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NĂM 2021
1. Định hướng – Mục tiêu
a. Định hướng
Tiếp tục củng cố mối quan hệ hợp tác của mạng lưới đã có và mở rộng phát triển thành viên mới.
Đảm bảo thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của các Trung tâm thành viên và nhiệm vụ chung của Khối nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của Khối.
Tập trung hoàn thành nhiệm vụ đẩy mạnh chuyển giao công nghệ 4.0 vào sản xuất và đời sống; đẩy mạnh các hoạt động liên kết, kết nối cung-cầu KH&CN; quảng bá tích cực triển khai các hoạt động thương mại hoá sản phẩm công nghệ, kết quả nghiên cứu góp phần đưa khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế và xã hội của vùng và cả nước.
b. Mục tiêu
Xây dựng chương trình hành động chung của Khối và thảo luận hoàn thiện các cơ chế chính sách, giải pháp liên kết phối hợp.
Hỗ trợ các thành viên trong khối kết nối thị trường KH&CN vùng ĐBSCL và cả nước thông qua các Điểm kết nối cung-cầu KH&CN (xây dựng đề án quảng bá sảm phẩm công nghệ, thương mại hoá sản phẩm và hỗ trợ hoạt động của các Trung tâm).
Hợp tác liên kết giữa các Trung tâm thành viên để có tiếng nói chung trong việc kiến nghị, đề xuất các giải pháp cho các cơ quan hữu quan hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; cơ chế phối hợp khai thác hiệu quả nguồn lực chất xám và trí tuệ của đội ngũ chuyên gia, các nhà khoa học và mạng lưới các tổ chức KH&CN khu vực tư nhân để giúp hoàn thành tốt nhiệm vụ của các Trung tâm thành viên và của Khối.
2. Nội dung
a. Hợp tác trong hoạt động
– Duy trì tổ chức định kỳ Hội nghị giao ban tại các tỉnh/thành từ 01 -02 lần/năm; luân phiên trong Khối nhằm tạo điều kiện cho các thành viên chia sẻ kinh nghiệm, những khó khăn, vướng mắc trong quá trong quá trình hoạt động qua đó thảo luận, trao đổi giải pháp và rút ra bài học kinh nghiệm cho Khối, đồng thời có những kiến nghị kịp thời lên các cấp lãnh đạo để giải quyết.
– Lồng ghép và kết hợp các hoạt động giao lưu, liên kết giữa các Trung tâm thông qua các hoạt động hội thảo, hội nghị chuyên đề hoặc có liên quan đến phát triển KH&CN Hoạt động này nhằm giới thiệu những công nghệ mới có tiềm năng chuyển giao ứng dụng, cũng như triển khai những chương trình, dự án hỗ trợ từ Bộ KH&CN.
b. Hợp tác trong thực hiện đề tài dự án
Trong năm 2021, Khối tiếp tục đặt ra mục tiêu xây dựng 01 dự án cấp Vùng thuộc một trong các lĩnh vực: nông nghiệp công nghệ cao (nâng cao chất lượng giống cây trồng, nông nghiệp đô thị), nâng cao chất lượng đời sống người dân nông thôn (cải thiện chất lượng nước sạch). Ban điều hành Khối chủ động trong việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư cho dự án.
c. Hợp tác trong xây dựng thị trường khoa học công nghệ vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Xây dựng mạng lưới thông tin khoa học công nghệ: tiếp tục quản lý và vận hành Điểm kết nối cung cầu công nghệ vùng ĐBSCL nhằm quảng bá, giới thiệu về Khối cũng như những thành tựu đã đạt được, đồng thời tăng cường trao đổi thông tin giữa các trung tâm thành viên trong Khối.
Đề xuất tổ chức 01 triển lãm công nghệ của các Thành viên trong Khối nhằm giới thiệu những quy trình, kỹ thuật công nghệ nổi bật đang ứng dụng chuyển giao tại địa phương. Thời gian và địa điển tổ chức thích hợp được Ban điều hành Khối thảo luận và lựa chọn.
Mở rộng tìm kiếm thị trường cho một số sản phẩm chủ lực của các Trung tâm.
d. Hợp tác trong ứng dụng chuyển giao công nghệ mới
Trong năm 2021, Khối tiếp tục tìm kiếm và chuyển giao các công nghệ thuộc các lĩnh vực:
Công nghệ ứng dụng trong nông nghiệp: chú trọng các công nghệ bảo quản và chế biến sau thu hoạch đối với các nông sản (nấm, rau, trái cây…), công nghệ truy xuất nguồn gốc nông sản.
Công nghệ ứng dụng trong sản xuất công nghiệp (giải quyết vấn đề môi trường, tiết kiệm năng lượng…) nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Mục tiêu trong năm 2021, có ít nhất 05 hợp đồng chuyển giao công nghệ được thực hiện.
e. Mở rộng quan hệ hợp tác bên ngoài Khối
Tiếp tục tăng cường, mở rộng hợp tác với các chuyên gia, viện, trường trong và ngoài nước trong lĩnh vực ứng dụng và chuyển giao công nghệ; phối hợp thực hiện các đề tài dự án.
Tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong hoạt động của các doanh nghiệp nhằm xã hội hóa hoạt động chuyển giao, ứng dụng công nghệ.
Nguyễn Thị Vân
Đăng ngày: 05/05/2020