Về phân tích DNA cây ăn trái, từ nhiều năm qua đã có khá nhiều nghiên cứu về đa dạng di truyền của các loại cây ăn trái ở Việt Nam đặc biệt là khu vực Nam Bộ, các công bố tiêu biểu như sau:
Nguyễn Lộc Hiền và ctv. (2012) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá mức độ đa dạng di truyền thông qua hình thái và chỉ thị phân tử DNA trên quần thể Măng cụt trồng ở khu vực Lái Thiêu – Thuận An, Tỉnh Bình Dương. Dựa trên hình thái, có 24/32 tính trạng đa hình chiếm tỉ lệ 75%. Tuy nhiên, phân tích di truyền bằng chỉ thị phân tử RAPD cho thấy mức độ đa hình không cao, thể hiện ở hệ số tương đồng là 0,42 – 1,00. Phân tích kết hợp giữa đặc điểm hình thái và chỉ thị phân tử cho mức độ tương đồng cao khoảng 0,55 – 0,99. Kết quả này lần nữa khẳng định kết luận của các nghiên cứu trước đây về mức độ tương đồng cao của quần thể Măng cụt nhưng đồng thời cũng chứng minh tính đa dạng di truyền và khả năng cung cấp những biến dị di truyền có giá trị của các quần thể Măng cụt ở Việt Nam.

Trần Nhân Dũng và Đỗ Tấn Khang (2012) đã tiến hành phân tích đa dạng di truyền bằng kỹ thuật Amplified Fragments Length Polymorphism (AFLP) và kỹ thuật giải trình tự dựa trên đoạn gen ITS (Internal Transcribed Spacer) trên 36 giống xoài thu thập từ một số tỉnh của Việt Nam, phần lớn tập trung ở tỉnh Đồng Tháp. Kết quả phân tích cho thấy, có 149 dấu phân tử AFLP được ghi nhận, trong đó có 49 dấu phân tử có tần số xuất hiện cao tìm thấy ở tất cả các giống xoài với tương quan di truyền r = 0,853. Kết hợp tương quan phân tích AFLP và ITS, kết quả cho thấy hai giống xoài Đá và xoài Gạo chỉ là một; hai giống xoài Bôm và xoài Úc Kensington Pride chỉ là một. Xoài Thủy Triều Nha Trang và những dạng xoài có dạng tương tự ở Nha Trang có cùng nguồn gốc với xoài Thanh Ca ở miền Nam. Xoài Bac-Tam-Bang, một giống xoài ưa thích của người Campuchia, là một dạng của xoài Hòn xanh 19. Xoài Cát Chu có nhiều kiểu hình và kiểu gen khác nhau. Xoài Thanh Ca có thể là tổ tiên của nhiều giống xoài phổ biến hiện tại như xoài Tượng, Thơm, Cát Chu. Các giống xoài ăn xanh Thái Lan có kiểu hình, kiểu gen riêng khác với các giống xoài Việt Nam. Riêng giống xoài Manduongcao chứa gen tương đồng với xoài Tượng. Xoài Yên Châu ở miền Tây Bắc Việt Nam lại có cùng nguồn gốc với xoài Úc Kensington Pride và xoài Bôm, hai giống xoài đồng dạng có nguồn gốc từ Mã Lai, Châu Đại Dương.
Lê Văn Hậu và ctv. (2018) đã tiến hành định danh các mẫu bo bo (Moina sp.) tại năm tỉnh thành thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre và Long An) bằng cả hình thái và chỉ thị phân tử DNA mã vạch nằm trên gen ty thể cytochrome coxidase subunit I (mtCOI). Nghiên cứu đã giải trình tự thành công đoạn gen mtCOI của 48 mẫu Moina sp. phân lập được. Kết quả phân tích cho thấy loài M. micrura hiện diện nhiều nhất, kế đến là loài M. macrocopa. Các mẫu Moina spp. được phân thành năm nhóm di truyền; trong đó, 31/48 mẫu thuộc nhóm I tương đồng 99% với M. micrura; 4/48 mẫu thuộc nhóm V tương đồng 99% với loài M. macrocopa; 8/48 mẫu thuộc nhóm II, 4/48 mẫu thuộc nhóm III và 1/48 mẫu thuộc nhóm IV chứa trình tự gen mtCOI có sự tương đồng thấp hơn 90% so với các loài Moina đã được công bố trên Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học Quốc gia (NCBI), Hoa Kỳ nên có khả năng là những loài mới, chưa có trình tự mtCOI cập nhật trên ngân hàng gen.
Hoàng Minh Trang (2016) đã tiến hành xác định và phân tích trình tự của một số đoạn mã vạch bao gồm rbcL, matK, ycf1b, trnH – psbA và ITS2 nhằm đề xuất mã vạch thích hợp đặc trưng cho các loài Trà hoa vàng ở vườn Quốc gia Tam Đảo, cụ thể là 5 loài Hải đường vàng (Camellia tienii Ninh), Trà vàng Hakoda (Camellia hakoda Ninh, Tr.), Trà vàng lá dày (Camellia crassiphylla Ninh et Hakoda), Trà vàng Tam Đảo (Camellia tamdaoesis Hakoda et Ninh) và Trà vàng Petelo (Camellia petelotii (Merr.) Sealy).
Trần Nhân Dũng và Trần Thị Lê Quyên (2012) đã tiến hành kiểm tra đa dạng di truyền của 32 dòng măng cụt ở Bình Dương bằng kỹ thuật ISSR với 11 cặp mồi. Kết quả PCR đã khuếch đại được 87 băng, trong đó có 40 băng thể hiện sự đa hình (45,98%) và 47 băng đơn hình (54,02%). Trong số 11 mồi sử dụng có 10 mồi cho kết quả đa hình, đặc biệt mồi ISSRED-14 cho kết quả đa hình khá cao, có thể là mồi hữu dụng để nghiên cứu khác biệt di truyền giữa các dòng măng cụt trên cùng vị trí địa lý. Kết quả phân tích bằng phần mềm NTSYSpc 2.11a theo phương pháp UPGMA cho thấy mức độ tương đồng của 32 dòng măng cụt dựa trên dấu phân tử ISSR nằm trong khoảng 0,75-1,00. Qua nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về mặt di truyền giữa 32 dòng măng cụt ở Bình Dương mặc dù măng cụt có hình thức sinh sản là vô tính. Sự biến đổi di truyền này có thể do tích lũy đột biến tự nhiên để thích ứng với môi trường sống.
Liễu Như Ý và Trần Nhân Dũng (2012) đã tiến hành khảo sát đa dạng di truyền của 16 dòng nấm ăn ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long. Hai cặp mồi ITS1 và ITS4 được dùng để khuếch đại vùng ITS1 + 5,8S+ ITS2. Kết quả đã xác định các mẫu nấm rơm khảo sát đều thuộc loài Volvariella volvaceae, các mẫu nấm bào ngư trắng thuộc loài Pleurotus ostreatus, các mẫu nấm bào ngư Nhật thuộc loài Pleurotus cytidiosus, nấm bào ngư xám thuộc loài Pleurotus pulmonarius, hai mẫu nấm kim châm thuộc loài Flammulina velutipes. Các mẫu nấm linh chi thuộc 3 loài: Ganoderma lucidum, G. gibbosum và G. tropicum. Giản đồ phả hệ cũng cho thấy mức tương quan di truyền giữa các loài nấm khảo sát với chỉ số bootstrap cao nên có thể kết luận các loài này có nguồn gốc rất gần.
Định hướng phát triển sản xuất cây ăn trái vùng Nam Bộ đến năm 2020 là hình thành vùng trồng cây ăn quả chủ lực trồng tập trung và định hướng rải vụ một số cây ăn quả theo hướng đảm bảo năng suất, chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, trên cơ sở đổi mới phương thức tiếp cận thị trường, kết hợp ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ, khai thác có hiệu quả lợi thế và điều kiện sinh thái mỗi vùng, mỗi địa phương đối với từng loại cây; quan tâm đến cây ăn quả đặc sản nổi tiếng có lợi thế cạnh tranh cao ở từng địa phương.
Để đáp ứng nhu cầu hội nhập và giữ vững thị phần trên thị trường quốc tế, trái cây của Việt Nam cần được đảm bảo về an toàn, chất lượng lẫn hình thức, trong đó việc truy xuất nguồn gốc là vấn đề hết sức quan trọng. Hơn nữa, việc chứng minh chất lượng của trái cây được sản xuất từ giống gốc hoặc cây đầu dòng vô cùng phức tạp và gặp nhiều khó khăn, do đó cần phải có một phương pháp đáng tin cậy để giải quyết vấn đề này. Chính vì thế, việc xây dựng cơ sở dữ liệu DNA mã vạch cho các loại cây ăn trái đặc sản của Việt Nam là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp thiết hiện nay.
Tài liệu tham khảo
Hoàng Minh Trang (2016) Xác định một số đoạn mã vạch ADN cho một số loài trà hoa vàng ở vườn quốc gia Tam Đảo. Luận văn Thạc sĩ Khoa học. Đại học Quốc gia Hà Nội.
Khuất Thị Mai Lương, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Chu Đức Hà, Trần Thị Hoa Mỹ, Đinh Văn Phê và Lê Hùng Lĩnh. (2018) Thiết kế và xây dựng bộ chỉ thị phân tử phục vụ kiểm định và nghiên cứu di truyền sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis). Đề tài thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ (mã số đề tài: ĐTĐL.CN-29/16).
Lê Văn Hậu, Lê Lưu Phương Hạnh, Ngô Huỳnh Phương Thảo, Nguyễn Phúc Cẩm Tú và Nguyễn Quốc Bình. (2018) Ứng dụng marker phân tử DNA barcode trong định danh các mẫu Moina spp. phân lập tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 54(2): 36-44.
Liễu Như Ý và Trần Nhân Dũng. (2012) Đa dạng di truyền một số loại nấm ăn dựa trên trình tự ITS (Internal Transcribed Spacer). Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 22b: 18-25.
Nguyễn Lộc Hiền, Phạm Quốc Duy, Huỳnh Kỳ và Huỳnh Thanh Tùng. (2012) Sự đa dạng di truyền của quần thể măng cục (Garcinia mangostana L.) ở Lái Thiêu (Bình Dương). Hội nghị Khoa học Nông nghiệp CAAB.
Trần Nhân Dũng và Đỗ Tấn Khang (2012) Đa dạng di truyền các giống xoài (Mangifera sp.) bằng kỹ thuật sinh học phân tử. Tạp chí Khoa học. 22a: 175–185.
Trần Nhân Dũng và Trần Thị Lê Quyên (2012) Đa dạng di truyền các giống/dòng măng cụt (Garcinia mangostana L.) dựa trên dấu phân tử ISSR ở Bình Dương. Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ. 23a: 253-261.
Nguyễn Thị Vân
Đăng ngày: 19/06/2020